Hà Nội và cuộc chiến chống “niềm tin gốc”: 5 giải pháp truyền thông để xóa bỏ định kiến giới từ gia đình

Thứ hai - 27/10/2025 21:24    Lượt xem: 283

Hà Nội và cuộc chiến chống “niềm tin gốc”:  5 giải pháp truyền thông để xóa bỏ định kiến giới từ gia đình

Sinh ra và lớn lên ở vùng ngoại thành Hà Nội. Tôi lớn lên giữa nhiều mái nhà Hà Nội truyền thống, những con ngõ nhỏ, những gia đình đa thế hệ, những cuộc trò chuyện gia đình luôn lặp đi lặp lại những câu hỏi quen thuộc: “Đẻ mấy cháu rồi?”, “Nhà có cháu trai chưa?”. Những câu nói tưởng chừng vô thưởng vô phạt ấy đã trở thành một phần văn hóa giao tiếp xã hội trong đời sống. Nhưng càng đi vào nghiên cứu sâu về bình đẳng giới, càng làm công tác pháp chế, càng tiếp cận sâu hơn với dữ liệu dân số và hệ thống chính sách, càng tham dự nhiều cuộc họp, nhiều hội nghị về dân số và bình đẳng giới, tôi càng nhìn thấy rõ rằng, rất nhiều điều đang tồn tại trong nhận thức cộng đồng tưởng như “vô hại” đó, thực ra lại là nguồn gốc sâu xa, dai dẳng và khó chữa nhất đang nuôi dưỡng nền tảng định kiến giới trong mỗi gia đình.
Chúng ta vẫn đang bước vào giai đoạn dân số vàng. Hà Nội - Thủ đô của cả nước, nơi hội tụ tinh hoa tri thức, văn hoá, lịch sử, đang đứng trước một thời điểm có ý nghĩa quyết định: dân số vàng, chất lượng dân số đang tăng, tuổi thọ trung bình cao, tầm vóc thể lực thanh niên được cải thiện rõ rệt. Nhưng cùng tồn tại song song với bức tranh dân số tích cực đó, Hà Nội vẫn đang phải đối diện một vấn đề nhức nhối, thậm chí mang tính hệ hệ dài hạn: mất cân bằng giới tính khi sinh. Tình trạng này không phải chuyện mới. Nhưng nó không giản đơn chỉ là một con số thống kê khô khan. Nó là kết quả của một quá trình hun đúc lâu dài trong tâm thức xã hội, trong tư duy văn hóa Á Đông, trong hệ niềm tin gia đình truyền thống về vai trò nam giới - nữ giới, về trách nhiệm “nối dõi tông đường”, về kỳ vọng giới tính đặt lên đứa trẻ ngay cả khi nó còn chưa được sinh ra.
Theo xu hướng số liệu công khai trong nhiều năm gần đây, tỷ số giới tính khi sinh tại Hà Nội có dấu hiệu giảm dần, nhưng mức độ ổn định vẫn chưa chắc chắn và vẫn luôn nằm trong vùng cảnh báo ở nhiều thời điểm. Cụ thể, năm 2016, tỷ số giới tính khi sinh tại Hà Nội vào khoảng 114 trẻ trai trên 100 trẻ gái. Đến năm 2018, con số này giảm xuống còn khoảng 113. Đến năm 2021 giảm tiếp còn 112,5. Đến năm 2023, giảm xuống còn khoảng 111,2. Và đến năm 2024, chỉ số này tiếp tục giảm nhẹ còn khoảng 111 trẻ trai trên 100 trẻ gái. Nếu nhìn theo đường xu hướng, đây là tiến triển tích cực. Đây là kết quả thể hiện sự vào cuộc mạnh mẽ của hệ thống chính trị, ngành y tế, truyền thông và cộng đồng. Tuy nhiên, con số 111 vẫn cao hơn mức cân bằng tự nhiên của tỷ số giới tính khi sinh (khoảng 104-106 trai/100 gái) và vẫn tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối giới tính trong tương lai. Điều này cho thấy, dù có chuyển biến, nhưng định kiến giới trong nhận thức cộng đồng vẫn còn rất sâu.
Tôi luôn tin rằng, truyền thông về bình đẳng giới không chỉ là một hoạt động kỹ thuật, càng không chỉ là một chiến dịch tuyên truyền mang tính phong trào, mà trước hết phải được nhìn nhận như một nhiệm vụ chính trị - xã hội căn bản, vì nó gắn trực tiếp đến chất lượng phát triển con người, đến công bằng cơ hội, đến sự phát triển bền vững của quốc gia. Khi phân tích nguyên nhân của mất cân bằng giới tính khi sinh, nhiều bài viết thường tập trung quá nhiều vào yếu tố can thiệp kỹ thuật như lựa chọn giới tính thai nhi, công nghệ y tế, khai thác dịch vụ siêu âm lựa chọn giới tính, định hướng lựa chọn con trai. Nhưng đó chỉ là “bề nổi” của tảng băng. Thực chất, gốc rễ sâu xa, cốt lõi, quan trọng và mang tính nền tảng nhất nằm ở định kiến giới tồn tại trong mỗi gia đình - đặc biệt là trong cộng đồng cơ sở.
Tôi nhận thấy rằng nơi tạo ra ảnh hưởng mạnh nhất đối với tư tưởng giới không phải là mạng xã hội, không phải truyền hình, không phải báo chí… mà chính là gia đình và cộng đồng cơ sở. Trong những cuộc gặp dân, làm việc với các địa phương, tiếp xúc với người dân, tôi nhận ra rằng niềm tin về “cần có con trai” vẫn là chuẩn giá trị mặc định tại nhiều nơi. Tư tưởng “con trai mới nối dõi tông đường”, “con trai gánh trọng trách gia đình”, “con gái rồi cũng đi về nhà chồng”, dù không được nói ra bằng ngôn từ mạnh mẽ như xưa nhưng vẫn hiện diện ở các tầng sâu thẳm.
Gia đình - chính là nơi hình thành, lưu truyền, tái sản xuất định kiến giới mạnh mẽ và bền vững nhất. Một chiến dịch truyền thông ở cấp Trung ương, một clip truyền thông 30 giây trên truyền hình, một thông tin lan truyền trên mạng xã hội - có thể tác động, nhưng nó khó thay đổi niềm tin sâu nếu những niềm tin gốc vẫn được củng cố mỗi ngày trong môi trường gia đình, dòng họ, họp gia tộc, họp đồng niên, họp họ - nơi mỗi lời nói, mỗi câu hỏi “như bình thường” lại là một cơ chế củng cố thiên kiến giới.
Để thay đổi được điều này, truyền thông phải xuống tận cơ sở. Phải đi sâu vào từng cộng đồng dân cư cụ thể, vào từng nhóm tương tác xã hội nhỏ, nơi mà tính kiểm soát xã hội phi chính thức rất cao. Bởi tôi tin rằng: chính các cộng đồng này mới là hệ thống có khả năng tác động mạnh nhất đến việc thay đổi cách người dân suy nghĩ về con trai - con gái. Truyền thông ở cấp cơ sở nếu làm đúng nguyên lý sẽ hiệu quả hơn rất nhiều so với truyền thông đại chúng đơn thuần.
Điều đáng lưu ý nữa là: Hà Nội là đô thị đặc biệt, có đặc điểm xã hội rất đa dạng. Trong cùng một thành phố, chúng ta có khu vực nội đô với đời sống hiện đại, thâm nhập mạng internet cao, tiếp cận tri thức toàn cầu nhanh. Nhưng bên cạnh đó chúng ta có khu vực ven đô - ngoại thành với sự tồn tại mạnh mẽ hơn của mô thức gia đình truyền thống, họ tộc nhiều thế hệ, với hệ giá trị tập tục vẫn giữ vai trò điều phối hành vi. Chính sự đa dạng đó khiến công tác truyền thông về bình đẳng giới nếu chỉ dùng một phương pháp chuẩn áp dụng chung cho toàn thành phố thì sẽ không hiệu quả tối ưu. Chúng ta phải đặt ra yêu cầu phân tầng - phân nhóm - phân loại hình truyền thông theo từng cấu trúc cộng đồng dân cư khác nhau.
Có thể nói: truyền thông bình đẳng giới muốn thành công phải bắt đầu từ tầng hộ gia đình và cộng đồng địa bàn - chứ không thể chỉ từ các chiến dịch truyền thông tầm quốc gia - tầm thành phố. Điều đáng nói là những định kiến này không phải tự nhiên biến mất khi xã hội phát triển. Chúng biến đổi hình thức và tinh vi hơn. Chúng tồn tại trong các lời khuyên của ông bà với con cháu, trong kỳ vọng của dòng họ, trong so sánh giữa các gia đình với nhau, trong những câu nói “thường ngày” nhưng tác động mạnh như một hệ chuẩn xã hội vô hình. Vì vậy, muốn thay đổi, truyền thông phải tác động trực diện vào các nhóm như vậy - nơi hình thành định kiến giới đầu tiên, nơi định hướng hành vi lựa chọn giới tính ngay từ khi cặp vợ chồng bắt đầu lên kế hoạch sinh con.
Ảnh minh họa: Mọi đứa trẻ đều có quyền được đối xử công bằng như nhau
(nguồn Internet)
Trong quan điểm của Đảng ta, bình đẳng giới không phải mục tiêu riêng của phụ nữ, mà là mục tiêu phát triển chung của cả xã hội, gắn với phát triển con người, phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế người dân trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tiến vào kỷ nguyên mới: kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh coi phụ nữ là lực lượng cách mạng quan trọng, có khả năng đóng góp ngang bằng, và bình quyền, bình đẳng nam -nữ, phải là bản chất của xã hội văn minh. Đây là cơ sở chính trị - tư tưởng quan trọng để chúng ta đặt vấn đề truyền thông thay đổi định kiến giới trong gia đình ở Hà Nội hiện nay.
Trong lĩnh vực pháp luật, Luật Bình đẳng giới, Luật Trẻ em, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030… đều khẳng định rõ yêu cầu thúc đẩy bình đẳng giới và giảm mất cân bằng giới tính khi sinh là nhiệm vụ chiến lược quốc gia. Nhưng tôi cho rằng, luật pháp chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi truyền thông giúp người dân hiểu, chấp nhận và thực hiện.
Và ở Hà Nội, nơi có đủ các tầng văn hóa, có quá trình đô thị hóa mạnh, có sự chuyển dịch giá trị xã hội nhanh hơn mặt bằng chung cả nước, việc này càng đóng vai trò then chốt. Để thay đổi định kiến giới thì phải bắt đầu bằng việc chỉ ra đúng bản chất định kiến nằm ở đâu, nó hình thành bằng cơ chế tâm lý - xã hội nào, và đặc biệt là nó được duy trì, tái sản xuất qua kênh truyền thông xã hội - truyền thông cộng đồng bằng cách nào.
Trong khoa học hành vi, định kiến giới không phải là niềm tin cá nhân đơn lẻ mà là một hệ tư tưởng văn hóa được củng cố tập thể. Nó được duy trì qua mối quan hệ quyền lực - kỳ vọng xã hội - chuẩn hành vi. Khi chuẩn xã hội về “giá trị con trai” và “thứ bậc giới” được xác lập trong gia đình, ngay cả những người hiểu biết cao, có tri thức, đôi khi vẫn vô thức tuân theo. Định kiến giới có tính vô hình, nhưng có sức mạnh hành vi mạnh hơn cả luật pháp. Đây là điều mà hệ thống chính sách phải nhìn thẳng.
Trong truyền thông hiện nay, có thể nhận diện có năm sai lệch phổ biến, làm gia tăng và duy trì định kiến giới mà nếu không sửa, truyền thông dù đầu tư bao nhiêu cũng không vào được chiều sâu:
Sai lệch thứ nhất: Truyền thông quá chú trọng vào việc cảnh báo hậu quả mất cân bằng giới tính khi sinh thay vì tập trung thay đổi niềm tin gốc. Khi truyền thông chỉ nói “lệch giới tính sẽ gây thừa nam thiếu nữ”, người dân nghe - nhưng không thay đổi tư duy về giá trị con gái. Tức là họ chỉ thấy “hậu quả xã hội”, nhưng vẫn tin rằng “con trai vẫn tốt hơn”.
Sai lệch thứ hai: Truyền thông thường đưa hình ảnh phụ nữ vào vai nạn nhân - yếu thế, chịu thiệt. Cách tiếp cận này vô tình củng cố rằng nữ giới “thấp hơn”, “bị động hơn”, “phải cần giúp đỡ”. Thay vào đó, truyền thông phải tạo hình tượng phụ nữ, trẻ em gái là chủ thể có năng lực, thành công, có đóng góp ngang bằng, thậm chí dẫn dắt.
Sai lệch thứ ba: Ngôn ngữ truyền thông vẫn vô thức chứa định kiến truyền thống. Cách lựa chọn từ, cách dẫn chuyện, tiêu đề bài báo, từ khóa mạng xã hội… nhiều khi vẫn dùng những khái niệm như “nối dõi”, “con trai trụ cột”, “con gái yếu thế hơn”. Những cụm từ này thẩm thấu cực nhanh và cực sâu. Muốn thay đổi định kiến giới phải thay đổi ngôn ngữ định kiến.
Sai lệch thứ tư: Truyền thông vẫn thiên về “thông tin” chứ chưa chú trọng “hành vi”. Khoa học hành vi cho thấy: con người không thay đổi chỉ vì biết đúng - họ chỉ thay đổi khi họ thấy hành vi ấy “được chấp nhận” bởi cộng đồng tham chiếu. Vì vậy, truyền thông phải tạo ra chuẩn xã hội mới ngay trong cộng đồng.
Sai lệch thứ năm: Tư duy truyền thông vẫn nặng hướng dọc - hướng trên xuống - trong khi nhóm định kiến nặng nhất lại nằm ở cấp phường - xã - họ tộc - gia đình. Vậy mà chúng ta lại truyền thông như truyền hình đại chúng, báo chí, chiến dịch quảng cáo… Điều này khiến thông điệp không đâm trúng đối tượng gốc.
Muốn thay đổi định kiến giới bền vững, truyền thông phải đi từ “tư duy cứng” sang “tư duy mềm”; từ “đánh vào nhận thức” sang “định hình hành vi - chuẩn xã hội mới”. Phải chuyển thông điệp từ kiểu “tuyên truyền” sang “định hướng và gợi mở”.
Ảnh minh họa: về bình đẳng giới (nguồn Internet)
Từ vấn đề thực tiễn nêu trên, tôi đề xuất năm nhóm giải pháp truyền thông trọng tâm:
Thứ nhất, truyền thông dựa trên số liệu báo cáo dân số và dữ liệu khoa học. Không thể nói chung chung. Truyền thông phải có số liệu cụ thể theo địa bàn, theo xã, phường, thôn, tổ dân phố, theo xu hướng biến động. Khi người dân nhìn thấy dữ liệu thực, nhìn thấy so sánh giữa các địa phương, giữa các thời điểm, họ mới có căn cứ tin vào vấn đề. Hà Nội nên hình thành nền tảng dữ liệu công khai dạng dễ hiểu và truyền thông hoá số liệu theo từng chiến dịch.
Thứ hai, truyền thông phải sử dụng mô hình thay đổi hành vi dựa trên tâm lý xã hội học. Thay đổi định kiến không thể chỉ bằng thông tin một chiều. Truyền thông phải sử dụng kỹ các “tín hiệu gợi mở” từng bước thay đổi thói quen nhận thức. Tạo ra câu chuyện tích cực, lan tỏa hình tượng con gái thành đạt, gia đình sinh 2 con gái vẫn thành công, biến “điển hình nữ giới tích cực” thành chuẩn mới của xã hội.
Thứ ba, truyền thông phải đi qua hệ thống chính trị ở cơ sở: phường - xã - tổ dân phố - Chi hội phụ nữ - Chi hội cựu chiến binh - Chi đoàn thanh niên - mạng lưới y tế cơ sở - giáo viên... Đây là nơi tiếp xúc trực tiếp, thường xuyên và tự nhiên với người dân. Khi mỗi cán bộ ở cơ sở trở thành một “tư vấn viên”, thông điệp sẽ thấm sâu hơn cả ngàn áp phích.
Thứ tư, truyền thông phải lồng ghép với giáo dục gia đình và trường học. Tư tưởng bình đẳng giới phải được dạy cho trẻ em ngay từ nhỏ. Nếu trẻ em tiểu học hiểu giá trị công bằng về giới, sau này khi trưởng thành, định kiến giới sẽ tự nhiên giảm mạnh. Đây chính là thay đổi bền lâu.
Thứ năm, đổi mới ngôn ngữ truyền thông. Truyền thông phải từ bỏ các cụm từ củng cố định kiến như “nối dõi”, “có con trai mới vững”, “con gái thiệt thòi hơn”. Ngôn ngữ tạo ra nhận thức - nhận thức tạo ra hành vi. Không thể truyền thông bình đẳng giới bằng ngôn ngữ chứa định kiến giới.
Ảnh minh họa: về mất cân bằng giới tính (nguồn Internet)
Bên cạnh đó, Hà Nội cần hoàn thiện chính sách theo hướng: Hỗ trợ tài nguyên truyền thông tới tận cơ sở (phường/xã; tổ dân phố/thôn); đầu tư công nghệ thông tin - phân tích dữ liệu - bản đồ cảnh báo nguy cơ mất cân bằng giới tính theo địa bàn; Quy định chuẩn ngôn ngữ truyền thông bình đẳng giới trong tài liệu nhà nước; Đào tạo đội ngũ tuyên truyền viên cấp cơ sở như một “lực lượng truyền thông chuyên nghiệp”.
Tôi tin rằng, Hà Nội có đầy đủ điều kiện và khả năng để trở thành địa phương tiên phong cả nước trong truyền thông thay đổi định kiến giới ngay từ cộng đồng. Khi Thủ đô đi đầu - cả nước sẽ đi theo. Khi mỗi gia đình Hà Nội coi con trai và con gái bình đẳng - thì bình đẳng giới mới thực sự trở thành giá trị sống của xã hội Việt Nam hiện đại. Mục tiêu quan trọng nhất của truyền thông về bình đẳng giới tại Hà Nội hiện nay không phải chỉ là cảnh báo tác hại mất cân bằng giới tính khi sinh, mà là tạo ra chuẩn giá trị mới trong gia đình. Khi gia đình coi con trai và con gái bình đẳng về phẩm giá, về cơ hội, về tương - thì mọi giải pháp sẽ có nền tảng vững chắc.
Chỉ khi truyền thông thay đổi được “niềm tin gốc” này thì chúng ta mới kiểm soát được mất cân bằng giới tính khi sinh một cách bền vững, lâu dài, không cần đến biện pháp chế tài, không cần đến các hình thức răn đe. Khi đó, bình đẳng giới không còn là nhiệm vụ tuyên truyền, mà trở thành giá trị sống tự nhiên trong mỗi gia đình. Hà Nội hoàn toàn có thể trở thành hình mẫu dẫn đầu cả nước trong lĩnh vực này. Với đặc thù Thủ đô, truyền thông không chỉ tạo ra thay đổi tại địa phương, mà còn có sức lan tỏa ra các địa phương khác. Nếu Hà Nội thay đổi thành công, cả nước sẽ thay đổi. Muốn Hà Nội đi đầu, phải bắt đầu từ nơi nhỏ nhất: bắt đầu từ từng gia đình Hà Nội.
Cuối cùng, điều quan trọng nhất là: truyền thông phải kiên trì và phải được duy trì liên tục. Không thể coi truyền thông về bình đẳng giới là một “đợt phát động”, một chiến dịch vài tháng, rồi sau đó dừng. Thay đổi định kiến giới là thay đổi cấu trúc niềm tin xã hội - nó cần thời gian, cần lặp lại, cần tạo ra cộng hưởng văn hóa./.

Tác giả: Nguyễn Duy Dương, Chi cục Dân số, Trẻ em và Phòng, chống tệ nạn xã hội

Tổng số điểm của bài viết là: 121 trong 25 đánh giá

Xếp hạng: 4.8 - 25 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây