Hà Nội đưa tỷ số giới tính khi sinh về cân bằng: chìa khóa nằm ở tư vấn trước khi kết hôn

Thứ ba - 04/11/2025 01:47    Lượt xem: 246

Hà Nội đưa tỷ số giới tính khi sinh về cân bằng:  chìa khóa nằm ở tư vấn trước khi kết hôn

KỲ I: NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ GIỚI TÍNH KHI SINH
Tại Hà Nội, công tác dân số nhiều năm qua luôn được Thành phố quan tâm, chỉ đạo, với sự phối hợp của nhiều cấp, ngành, đơn vị theo đúng tinh thần quản lý nhà nước thống nhất, đồng bộ, liên ngành theo pháp luật. Nếu nhìn lại chặng đường gần một thập kỷ, Hà Nội đã có bước tiến rõ rệt trong nỗ lực đưa tỷ số giới tính khi sinh dần trở về cân bằng tự nhiên; năm 2016, cứ 100 bé gái được sinh ra thì có tới khoảng 114 bé trai; đến năm 2018, chỉ số này đã giảm nhẹ xuống còn khoảng 113 bé trai; quá trình điều chỉnh tiếp tục duy trì trong những năm sau đó: năm 2021 còn khoảng 112,5 bé trai; năm 2023 giảm xuống mức khoảng 111,2 bé trai; đáng chú ý, đến năm 2024, tỷ số giới tính khi sinh tại Hà Nội chỉ còn 111 trẻ trai trên 100 trẻ gái - mức thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây. Những con số này cho thấy xu hướng tích cực, phản ánh hiệu quả bước đầu của việc tăng cường truyền thông, thay đổi nhận thức cộng đồng, đồng thời thể hiện các giải pháp can thiệp chính sách đang đi đúng hướng.
Tuy nhiên, mức 111 trẻ trai/100 trẻ gái vẫn còn cao hơn đáng kể so với cân bằng tự nhiên và Hà Nội vẫn cần tiếp tục kiên trì, triển khai đồng bộ hơn nữa để đưa tỷ số này trở về mức bền vững và ổn định lâu dài. Đây không chỉ là chỉ báo về vấn đề dân số đơn thuần, mà còn phản ánh những hệ lụy xã hội sâu sắc, lâu dài và có tính chất cấu trúc về bất bình đẳng giới, quan niệm văn hóa trọng nam khinh nữ và lựa chọn giới tính thai nhi trước sinh. Nếu không có giải pháp can thiệp sớm, toàn diện, hệ thống và bền vững thì trong tương lai, xã hội sẽ đối mặt với nguy cơ thiếu hụt nữ giới, mất cân bằng trong kết hôn, gia tăng các vấn đề xã hội như bạo lực giới, buôn bán người, xâm hại trẻ em, tội phạm tình dục, tăng mô hình kết hôn muộn, kết hôn xuyên biên giới, từ đó kéo theo rủi ro về an ninh xã hội, nguồn nhân lực,và chất lượng dân số.

Thực tiễn quản lý cho thấy, tỷ số giới tính khi sinh chịu chi phối bởi cả yếu tố tâm lý - văn hóa - gia đình lâu đời, lẫn yếu tố công nghệ hiện đại, sự phát triển của kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và chẩn đoán sớm giới tính thai nhi. Vì vậy, việc truyền thông nâng cao nhận thức trước khi kết hôn và trước sinh, đồng thời lồng ghép tư vấn trước khi kết hôn vào công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, là giải pháp then chốt và mang tính chiến lược, có tác động gốc rễ để đưa tỷ số giới tính khi sinh trở lại trạng thái cân bằng tự nhiên. Sự mất cân bằng giới tính khi sinh tại Hà Nội có nguyên nhân sâu xa từ tâm lý gia đình mong muốn có con trai để nối dõi, thờ cúng tổ tiên, duy trì dòng họ; quan niệm văn hóa truyền thống và ảnh hưởng từ chế độ phụ quyền, kết hợp với tác động từ công nghệ lựa chọn giới tính thai nhi. Không ít trường hợp gia đình có học vấn cao nhưng vẫn mong muốn chọn giới tính con đầu lòng; thậm chí có tư duy “nếu chỉ được một lần sinh - phải là con trai”. Bài toán này không thể giải quyết chỉ bằng biện pháp xử phạt hay cấm đoán. Bởi vì, vấn đề nằm trong nhận thức, quan niệm gốc, hệ giá trị xã hội, giá trị gia đình, cấu trúc văn hóa về giới. Do vậy, truyền thông thay đổi hành vi cần được đặt đúng vị trí chiến lược, linh hoạt theo từng nhóm nhân khẩu học, phù hợp văn hóa Hà Nội và đặc biệt phải bắt đầu từ trước khi gia đình hình thành - tức là giai đoạn trước khi kết hôn.
Ảnh minh họa: Vượt qua định kiến giới - nâng cao nhận thức trước sinh
(nguồn internet)
Nhận thức gốc về giới tính được định hình trước khi đứa trẻ ra đời. Trong nghiên cứu về hành vi xã hội học, quyết định sinh con trai hay con gái không phải được quyết định tại thời điểm siêu âm tuần 12 hay 16 như một số người vẫn nghĩ. Quyết định ấy thực chất hình thành từ hàng năm trước đó, từ những quan niệm văn hoá - xã hội, từ các cuộc trò chuyện trong gia đình và dòng họ, từ mô hình vai trò giới mà thanh thiếu niên nhìn thấy trong suốt quá trình lớn lên. Tư tưởng trọng nam khinh nữ không phải “đột ngột xuất hiện” khi người phụ nữ mang thai, mà nó tồn tại ngay trong suy nghĩ của các cặp đôi trước khi kết hôn. Vì vậy, cải thiện nhận thức phải bắt đầu trước khi hành vi lựa chọn giới tính có thể xảy ra.
Trong quan điểm của Đảng và định hướng chính sách phát triển con người ở Việt Nam, bình đẳng giới luôn là trụ cột phát triển bền vững. Quan điểm coi trọng con người, coi trọng giá trị bình đẳng giữa nam và nữ là giá trị nền tảng để xây dựng xã hội văn minh, dân chủ, ổn định và phát triển. Tuy nhiên, để tư tưởng ấy đi vào đời sống một cách thực chất, truyền thông và giáo dục phải “đi trước” hoạt động sinh đẻ. Cơ sở pháp lý hiện hành của Việt Nam đã xác lập rõ ràng định hướng bảo vệ và bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ trước pháp luật, nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi. Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định nguyên tắc bảo đảm bình đẳng giới trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 khẳng định hôn nhân xác lập trên nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, bình đẳng vợ chồng; Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em được bảo vệ không bị phân biệt đối xử, được bảo đảm phát triển hài hòa. Đồng thời pháp luật về dân số và các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế đã khẳng định rõ ràng: nghiêm cấm mọi hành vi lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức, bao gồm cả tuyên truyền, tư vấn, cung cấp dịch vụ, sử dụng công nghệ hỗ trợ sinh sản trái pháp luật để lựa chọn giới tính. Hệ thống pháp luật nêu trên chính là nền tảng quan trọng trong truyền thông và tư vấn trước khi kết hôn. Bởi vì, công tác truyền thông không chỉ dừng lại ở việc xoá bỏ định kiến giới, mà còn phải tạo ra nhận thức pháp lý, ý thức thượng tôn pháp luật, để từng cặp nam nữ bước vào hôn nhân phải nhận thức đầy đủ quyền - nghĩa vụ - trách nhiệm liên quan đến sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và việc tôn trọng giới của con trẻ.

 
Ảnh minh họa: Giới tính khi sinh - hậu quả của định kiến và thiếu nhận thức (nguồn internet)
Truyền thông nâng cao nhận thức trước sinh tại Hà Nội cần đi vào chiều sâu thay đổi nhận thức cộng đồng. Không chỉ truyền thông đại chúng, mà cần truyền thông trực tiếp thông qua mô hình nhóm nhỏ, truyền thông theo độ tuổi, theo giai đoạn chuẩn bị kết hôn, theo đặc thù từng địa bàn dân cư. Cần coi trọng truyền thông ở cấp cơ sở, đặc biệt tại các xã, phường - nơi quyết định hiệu quả thực chất. Truyền thông phải đi từ nội dung cơ bản nhất: sinh con trai hay con gái đều có giá trị bình đẳng như nhau; giá trị con người được xác định bởi nhân cách, năng lực, đạo đức, chứ không phải bởi giới tính sinh học. Cần thuyết phục bằng luận cứ thực tiễn, khoa học và pháp lý; cần sử dụng thông điệp truyền thông gắn với những hình mẫu tích cực về phụ nữ thành đạt, gia đình có con gái vẫn hạnh phúc, thành công và đóng góp xã hội; cần truyền thông đa nền tảng từ báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình, mạng xã hội, nền tảng video ngắn… cần truyền thông đi vào chiều sâu bằng các sản phẩm truyền thông sáng tạo, thay đổi hình ảnh cố định, truyền thông qua câu chuyện đời thật, nhân vật thật, trường hợp thật, mô hình truyền thông trực quan, tạo đối thoại hai chiều với cộng đồng.
Điểm đột phá then chốt là tư vấn trước khi kết hôn. Đây là giải pháp căn cơ vì nó tác động vào thời điểm trước khi cặp đôi quyết định số con, thời điểm mà nhận thức chưa đóng khung, chưa định hình khuôn mẫu giới về con trai - con gái, chưa chịu áp lực từ gia đình hai bên về chuyện “nối dõi tông đường”. Tư vấn trước khi kết hôn phải có nội dung về bình đẳng giới và chống lựa chọn giới tính thai nhi, lồng ghép giáo dục pháp luật, sức khỏe sinh sản vị thành niên, sức khỏe trước khi kết hôn, tư vấn tâm lý gia đình, kỹ năng làm cha mẹ, kỹ năng xây dựng hôn nhân bền vững. Mục tiêu là giúp mỗi cặp nam nữ bước vào hôn nhân hiểu rằng sinh con ra trước hết là quyền ưu tiên của trẻ được ra đời, được bảo vệ, được tôn trọng và phát triển toàn diện - không phân biệt giới tính. Đây chính là sự thay đổi hệ giá trị trong cách nhìn về sinh sản: từ “sinh con để có người nối dõi” sang “sinh con để tạo ra một con người toàn diện, có giá trị nhân văn và được bảo vệ bằng pháp luật”.
Đối với Hà Nội, triển khai tư vấn trước khi kết hôn cần xây dựng mô hình điểm, chuẩn hóa chương trình, bộ tài liệu truyền thông, đội ngũ tư vấn viên; đưa nội dung này trở thành hoạt động thường xuyên trong công tác dân số của Thành phố. Cần đưa tư vấn trước khi kết hôn vào trường học, đặc biệt đối với học sinh, sinh viên chuẩn bị bước vào độ tuổi kết hôn; đưa vào các câu lạc bộ, nhóm thanh niên, tổ chức đoàn thể; đưa vào mô hình tư vấn nhóm nhỏ ở phường, xã; tăng cường phối hợp giữa ngành y tế - giáo dục - thanh niên - hội phụ nữ. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra các cơ sở y tế, cơ sở cung cấp dịch vụ liên quan đến chẩn đoán và lựa chọn giới tính thai nhi trái pháp luật, kiên quyết xử lý nghiêm minh theo pháp luật; đồng thời truyền thông, giáo dục và cảnh báo công khai để tạo sức răn đe xã hội. Công tác truyền thông chống lựa chọn giới tính thai nhi phải có tính chiến lược, kiên trì, bền bỉ, liên tục; phải bắt đầu từ thay đổi nhận thức gia đình, từng cá nhân, từng cặp vợ chồng tương lai; phải bắt đầu từ chính việc định hình giá trị nhân văn về giới từ giai đoạn trước khi kết hôn. (còn tiếp)

Tác giả: Nguyễn Duy Dương, Chi cục Dân số, Trẻ em và Phòng, chống tệ nạn xã hội

Tổng số điểm của bài viết là: 120 trong 24 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 24 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây